Tại Hội thảo quốc gia “Hoa sen gắn với phát triển làng nghề” ngày 21/8, các chuyên gia và cơ quan quản lý cho rằng, dư địa phát triển cây sen còn lớn, nhưng tăng diện tích không nên là mục tiêu trước tiên. Bài toán cần giải trước là vùng nào phù hợp, trồng giống gì, phục vụ sản phẩm nào và thị trường có khả năng hấp thụ đến đâu.
Yêu cầu này càng được đặt ra khi sen đang được nhiều địa phương quan tâm như một lựa chọn cho những chân ruộng trũng, đất sản xuất hiệu quả thấp hoặc khu vực có khả năng kết hợp nông nghiệp với các hoạt động kinh tế khác.

Toàn cảnh hội thảo quốc gia về sen được tổ chức sáng 21/8 tại xã Hồng Minh (Hưng Yên). Ảnh: Bảo Thắng.
Không lấy tăng trưởng diện tích làm thước đo
Một trong những khó khăn khi tính toán quy mô phát triển sen hiện nay là dữ liệu về ngành hàng còn phân tán. PGS.TS Đặng Văn Đông, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) cho biết, Việt Nam chưa có hệ thống thống kê quốc gia riêng, cập nhật thường niên và đầy đủ về cây sen.
Số liệu về diện tích, sản lượng, cơ cấu mục đích sử dụng, làng nghề, doanh thu chế biến hay du lịch từ sen còn nằm rải rác ở các báo cáo địa phương, đề tài nghiên cứu và nguồn chuyên ngành.
Khoảng trống dữ liệu càng trở nên đáng chú ý khi cây sen đang được đưa vào nhiều không gian sản xuất khác nhau. Ngoài các vùng truyền thống ở Đồng Tháp, Huế hay Hà Nội, một số mô hình đã được triển khai trên đất trũng, đất lúa hiệu quả thấp, thậm chí được khảo nghiệm tại khu vực miền núi. Mỗi nơi lại có điều kiện đất, nước, khí hậu và thị trường khác nhau.
Thống kê của Viện cho thấy, sự khác biệt này đồng nghĩa không thể có một công thức phát triển chung cho mọi vùng sen. Việc lựa chọn giống vì thế cần gắn với điều kiện sinh thái và mục đích sử dụng cụ thể, thay vì dựa chủ yếu vào kinh nghiệm hoặc giống đang phổ biến.

TS Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn. Ảnh: Bảo Thắng.
Thực tế tại Đồng Tháp chỉ ra, ngay cả địa phương đã có quy mô sản xuất tương đối lớn cũng đứng trước yêu cầu chuyển cách đo hiệu quả từ diện tích sang giá trị. Theo ThS Ngô Chí Công, Chủ tịch Hội Ngành hàng Sen Đồng Tháp, khi sen đã được phát triển như một ngành hàng, câu hỏi không nên dừng ở mỗi năm trồng bao nhiêu hecta.
Điều cần tính là một hecta tạo ra bao nhiêu giá trị và người trồng nhận được bao nhiêu trong phần giá trị đó.
Đồng Tháp hiện có lợi thế về vùng nguyên liệu, kinh nghiệm sản xuất và hệ sản phẩm tương đối đa dạng. Tuy nhiên, sản xuất còn phân tán, một số giống có biểu hiện thoái hóa, trong khi sâu bệnh và biến động giá ảnh hưởng đến thu nhập. Liên kết giữa người trồng với cơ sở chế biến ở một số nơi chưa đủ dài hạn.
Từ thực tế này, ông Công cho rằng địa phương cần phân vùng nguyên liệu theo mục đích sử dụng, chuẩn hóa tiêu chuẩn thu mua và để doanh nghiệp tham gia ngay từ khâu thiết kế mùa vụ. Theo đó, nhu cầu nguyên liệu và sản phẩm cuối cùng sẽ tham gia quyết định diện tích, giống và mùa vụ ngay từ đầu, thay vì sản xuất trước rồi tìm thị trường.

Ban chủ trì hội thảo. Từ trái sang: ông Nguyễn Hữu Vạn - Chủ tịch Hội Sinh vật cảnh Việt Nam; ông Lê Đức Thịnh - Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn; ông Đặng Văn Đông, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả. Ảnh: Bảo Thắng.
Xác định sản phẩm trước khi nhân rộng
Nếu Đồng Tháp cho thấy bài toán của một vùng sen đã phát triển, thực tế tại miền núi đặt ra câu hỏi khác. Tại xã Trấn Yên (Lào Cai), năm 2026, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hoa, Cây cảnh (Viện Nghiên cứu Rau quả) phối hợp địa phương khảo nghiệm 4ha giống sen mới tại Quy Mông, Trấn Yên và Việt Hồng.
Các nhóm giống được bố trí theo hướng lấy hoa, lấy hạt và phục vụ du lịch. Tổng diện tích sen toàn xã được địa phương công bố khoảng 6 ha, trong đó HTX Sen Việt Trấn Yên có hơn 3ha. Dù sen phần nào thể hiện được tiềm năng của một cây trồng có giá trị kinh tế, bà Nguyễn Thị Tuyết Nga, Chủ tịch Hội Nông dân xã Trấn Yên cho rằng, bước tiếp theo không phải mở rộng ngay diện tích.
Theo bà Nga, địa phương cần tiếp tục theo dõi các giống và biện pháp kỹ thuật đã triển khai, từ đó lựa chọn giống thực sự thích nghi, có chất lượng và phù hợp với định hướng sản phẩm. Quy trình kỹ thuật cũng cần được hoàn thiện riêng cho điều kiện miền núi.
Vùng sen có thể phát triển tập trung nhưng phải theo bước đi thận trọng, ưu tiên khu vực có điều kiện đất, nước phù hợp, thuận lợi vận chuyển và có hợp tác xã hoặc tổ hợp tác làm đầu mối. Mỗi vùng, theo bà, phải xác định rõ mục tiêu sản xuất, cơ cấu sản phẩm và phương án tiêu thụ trước khi nhân rộng.
Cách tiếp cận này cũng đặt lại vai trò của hợp tác xã. Thay vì chỉ tập hợp hộ sau khi vùng trồng đã hình thành, hợp tác xã có thể tham gia từ đầu vào việc tổ chức vùng nguyên liệu, cung ứng giống và dịch vụ kỹ thuật, thu gom, sơ chế, kiểm soát chất lượng và ký hợp đồng. Nhật ký sản xuất, mã lô và truy xuất nguồn gốc được đưa vào cùng quá trình tổ chức sản xuất, thay vì bổ sung sau khi sản phẩm đã ra thị trường.

PGS.TS Đặng Văn Đông, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả chia sẻ về một số định hướng phát triển ngành sen. Ảnh: Bảo Thắng.
Trong bối cảnh thời tiết biến động và thị trường đòi hỏi sản phẩm an toàn hơn, định hướng chọn tạo giống cũng được đề xuất chuyển từ mục tiêu đơn thuần “năng suất cao” sang năng suất ổn định, chất lượng tốt, khả năng chống chịu và thích ứng cao.
Điều này cho thấy mở rộng và phát triển vùng trồng sen không thể bắt đầu bằng một chỉ tiêu diện tích chung. Với vùng đã hình thành ngành hàng như Đồng Tháp, yêu cầu là ổn định vùng nguyên liệu cho chế biến và nâng giá trị trên một đơn vị diện tích. Với những vùng mới, khả năng thích nghi của giống và hiệu quả của mô hình cần được kiểm chứng trước khi tính đến quy mô lớn hơn.
Mỗi vùng sen cần một bài toán riêng
TS Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) chia sẻ, để phát triển sen thành ngành hàng, trước hết cần có một bức tranh đủ rõ về vùng sinh thái, giống, mục đích sử dụng, sản phẩm và thị trường.
Theo ông, dữ liệu về diện tích, sản lượng, vùng nguyên liệu, làng nghề và sản phẩm sen hiện cần tiếp tục được chuẩn hóa. Đây là cơ sở để đánh giá đúng tiềm năng từng vùng, thay vì lấy một mô hình hoặc một mức diện tích chung làm căn cứ phát triển cho nhiều địa phương có điều kiện khác nhau.
Trên cơ sở đó, từng địa phương cần xác định lợi thế riêng. Khả năng cây sen sinh trưởng mới là một điều kiện; để hình thành vùng sản xuất, còn phải làm rõ giống nào phù hợp, nguyên liệu phục vụ sản phẩm gì và nhu cầu thị trường ra sao. “Không mở rộng diện tích khi chưa xác định rõ đầu ra”, ông Thịnh nhấn mạnh và coi đây là nguyên tắc để tránh phát triển theo phong trào.

Các đại biểu tham quan một số sản phẩm chế biến từ sen. Ảnh: Bảo Thắng.
Cùng với việc xác định lợi thế vùng, Cục trưởng cho rằng cần làm rõ mô hình tổ chức chuỗi và vai trò của từng chủ thể. Người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp và nhà khoa học cần được kết nối từ quá trình xây dựng vùng nguyên liệu đến chế biến, tiêu thụ. Trong đó, hợp đồng không chỉ xác định yêu cầu chất lượng mà cần có cơ chế chia sẻ lợi ích và rủi ro giữa các bên.
Theo cách tiếp cận này, quy mô vùng trồng là kết quả của bài toán thị trường và khả năng tổ chức chuỗi, thay vì một mục tiêu đi trước. Với những vùng mới, mô hình có hiệu quả là cơ sở để tiếp tục đánh giá; quyết định nhân rộng chỉ nên đặt ra khi đã xác định được giống, sản phẩm và khả năng tiêu thụ.
Mỗi sản phẩm sen cũng cần có tiêu chuẩn và nguồn nguyên liệu rõ ràng, đồng thời gắn với kênh phân phối phù hợp. Khi những điều kiện này được thiết lập, lợi thế riêng của từng vùng mới có thể chuyển thành giá trị của ngành hàng, thay vì chỉ tạo thêm diện tích và sản phẩm.
Nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn
Tin tức khác